Subscribe:

Ads 468x60px

Thứ Hai, 2 tháng 4, 2012

NHẬN BIẾT



Nhìn biết một con người thì mỗi người có một cái nhìn khác nhau, sở dĩ như vậy là do chúng ta không thể hiểu thấu hết mọi khía cạnh của một con người. Vì là con người với thân phận mỏng manh và giới hạn nên cái nhìn của con người cũng bị giới hạn. Chỉ có nơi Thiên Chúa được mặc khải qua Đức Giê-su mới có cái nhìn toàn diện và thấu đáo một con người vì Người là Đấng toàn năng, hoàn thiện và toàn mỹ. Người biết danh tính từng con người một, Người biết cả những tâm tư thầm kín nhất của con người dù con người chưa mở miệng nói ra… tất cả những điều Người biết đó là để cho con người được sống và sống dồi dào trong tình yêu của Người.
Trước hết, ta thấy Người đã gọi đích danh từng con chiên một. Điều này xem ra chẳng có gì là đặc biệt nhưng để ý một chút thì đó lại là một chi tiết hết sức độc đáo, chẳng hạn nó nói lên được giá trị của từng con chiên, mỗi con có giá trị riêng tuy tất cả đều là chiên. Nhưng con chiên này thì khác con chiên kia không chỉ là ở tên gọi mà hơn thế là mỗi con chiên có một giá trị riêng mà không gì có thể thay thế được. Mất một con chiên là đàn chiên thiếu mất một con chứ không thể lấy con khác mà thay thế vào đó. Chính vì thế, khi mất một con chiên thì chủ chăn đã đi tìm cho kỳ được. Người đặt tất cả tình yêu mến vào cái tên mà Người gọi chúng, chẳng hạn như: Người gọi Phê-rô “con là Simon con ông Gioan” và ta còn gặp được Người gọi tên vị thủ lãnh các Tông đồ ở nhiều lần khác nhau với nhiều sắc thái khác nhau. Không phải tình cờ mà Người nhắc tên Phê-rô nhiều như vậy mà mỗi lần nó có một ý nghĩa khác nhau và Người cũng đã giải thích. Cũng như tên của từng Tông đồ một cũng được Người giải thích. Sự thân mật được tăng dần khi càng gần về đến giờ của Người qua việc gọi tên. Có thể các Tông đồ chưa hiểu lắm nhưng có lẽ các ngài cũng cảm nhận được tình yêu của Thầy mình dành cho mình. Nhất là khi được Người gọi tên hay được Người đổi tên là ta thấy nơi những con người đó có sự thay đổi: La-za-rô thì từ cõi chết qua cõi sống; Ma-ri-a Ma-da-lê-na thì đổi từ u sầu buồn bã sang vui mừng khôn tả; Phao-lô thì từ một kẻ bách hại đã trở lại thành vị tông đồ dân ngoại. Ta thấy được tình yêu mà Người đã dành cho các ngài kể cả Giu-đa – kẻ phản bội, Người vẫn hy vọng chờ đợi, vẫm gọi tên ông cách tha thiết.
Tuy vậy, nhận biết đích danh mới chỉ là một điều tượng trưng. Điều mà Đức Giê-su biết rõ ràng nơi nhân loại đó là phẩm giá cũng như những tâm tình thầm kín nhất của con người. Biết điều đó không phải để tò mò như những con người nhân loại mà là để Người cải hóa họ để họ nhận biết được chính mình trong tương quan với người khác cũng như trong tương quan với Thiên Chúa. Trước mặt Người thì không ai có thể che dấu được bất cứ điều gì vì Người nhìn xuyên thấu được tâm hồn họ. Ngay từ đầu khi gọi các môn đệ, Người đã nhận biết rõ các ông. Khi thấy Na-tha-na-el thì Người đã nói liền về ông. Từ đời đời, Người đã nhận biết và Người đã tuyển lựa. Người phụ nữ Sa-ma-ri cũng từng được kinh nghiệm về sự nhận biết của Đức Giê-su. Không phải là để kể tội mà là để người ta được trải lòng và sống thực với chính mình và với người chung quanh. Vì nơi Người họ có thể cảm nhận được sự chân thành mà tin tưởng và nhất là họ cảm nhận được tình yêu thương, thông cảm của Người dành cho họ. Chính bởi thế mà thay vì tự ái, giận dữ thì trái lại đó là sự cảm phục và qui hồi thành một con người mới – con người của tình yêu. Không phải chỉ qua trao đổi, qua việc người ta trình bày mà chỉ cần người ta nghĩ gì thì Người cũng đã biết: khi các người Biệt phái lẩm bẩm về việc Đức Giê-su đã tha tội cho người bất toại và Người đã trả lời họ; rồi ông biệt phái Simon đã mời Người đến dự tiệc thì ông đã thầm nghĩ một vị tiên tri thì hẳn phải nhận ra người phụ nữ đến sấp mình dưới chân mình là một kẻ tội lỗi và Người cũng đã trả lời ông; rồi khi các môn đệ tranh luận với nhau về việc ai là người có địa vị lớn và khi về đến nhà thì Người hỏi và các ông cũng lặng thinh và Người cũng đã trả lời các ông. Không có gì có thể thoát được sự nhận biết tinh tế của Người. Giu-đa đã cố che dấu ý định của mình: từng bước một, Người khuyến cáo và chờ đợi.
Nhưng dầu cho có sâu sắc đến đâu đi chăng nữa thì sự nhận biết này là sự nhận biết của một chủ chiên nhân lành với đàn chiên chứ không phải là sự nhận biết của những kẻ soi mói. Không phải Người dùng sự biết của mình để khống chế con người nhưng trái lại Người dùng sự biết của mình để có cách ứng xử thích hợp với từng người một, để họ khỏi phải hư mất. Cái biết của Người không gì khác hơn là dùng để yêu thương và để cứu vớt con người. Trong cuộc sống trần gian, Người không bao giờ phán xét một ai. Người đã tự định nghĩa mình là mục tử nhân lành chứ không phải là vị phán quan – chuyên kết án những ai phạm tội. Người đến để tìm những con chiên lạc và đưa chúng về đàn chiên. Khi tự mình giải thích sự nhận biết loài người thì Đức Giê-su đã lấy sự nhận thức giữa mình với Chúa Cha làm nguyên tắc: “Ta nhận biết chiên Ta và chiên Ta biết Ta, như Chúa Cha nhận biết Ta và Ta nhận biết Chúa Cha” (Ga 10, 14-15). Như thế nói lên rằng sự nhận biết giữa Đức Giê-su và nhân loại, đặc biệt là các môn đệ là sự nhận biết tối thượng, thuộc về thế giới siêu việt, thuộc về thượng giới chứ không thuộc về thế giới nhân loại. Như Người và Chúa Cha vui thỏa trong nhau thì nhân loại với Người cũng được vui thỏa như vậy. Như vậy là Người đã hoàn toàn trao tặng mình cho nhân loại.
Tóm lại, nhận biết được Thiên Chúa Tình Yêu và được Thiên Chúa nhận biết đó là một hạnh phúc vô cùng to lớn không gì có thể thay thế được của con người. Đức Giê-su không tỏ mình ra là một Thiên Chúa để gây ảnh hưởng hay tìm lợi ích gì mà Người tỏ mình ra cho mọi người cốt là để loài người được sống sung mãn. Đó là một tặng ân đầy đủ về ngôi vị Chúa là tình yêu. Và con người được đón nhận tình yêu như một ân ban hay nói cách khác con người chính là đối tượng của tình yêu Thiên Chúa.

Bruno Vinh

0 nhận xét:

Đăng nhận xét

 
BACK TO TOP