Subscribe:

Ads 468x60px

Thứ Tư, 4 tháng 4, 2012

VỊ TRÍ TRIẾT HỌC TRONG VĂN HOÁ HIỆN ĐẠI



Với cái nhìn của người mới bước vào con đường học triết học tôi xin mạn phép chia sẽ những thao thức, những suy tư về vai trò của triết học trong văn hoá hiện đại. Để hiểu vấn đề này, trước tiên ta tìm hiểu về vấn đề của cuộc khủng hoảng văn hoá hiện đại. Kế đến, ta sẽ so sánh khoa học và sự khôn ngoan. Để từ đây ta thấy được vai trò cũng như vị trí của triết học trong thời đại ngày nay. Trong bài viết này tôi sử dụng cuốn “Triết học nhập môn” của cha Guy. Nguyễn Hồng Giáo làm tài liệu tham khảo.
1. Cuộc khủng hoảng văn hoá hiện đại.

Trong thời đại chúng ta, khoa học kỹ thuật đã đạt được những thành quả lẫy lừng và đã thay đổi sâu xa đời sống và cách suy nghĩ của con người. Ta thường nghe nói xã hội bây giờ là xã hội văn minh, điều này có thực sự đúng hay không? Một nền văn minh, tự nền tảng, là một toàn thể những ý tưởng và lý tưởng cho con người sống theo. Chúng được mặc định trong những quy tắc đời sống và những cơ chế, chúng tạo thành một trật tự hài hoà, mang lại cho đời sống tính thống nhất và ý nghĩa.
Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật ngày nay (chẳng hạn trong phạm vi các phương tiện truyền thông và trong di truyền học) đã làm xáo trộn trật tự trên. Những lý tưởng, những giá trị căn bản của xã hội đã bị nghi ngờ hoặc bị chối bỏ. Ví dụ nền tảng gia đình. Xã hội hiện đại là một xã hội có khuynh hướng đề cao tự do cá nhân đến mức gần như là phóng túng vì thiếu viễn tượng, thiếu phương hướng, là một xã hội loại trừ Thiên Chúa, và vì thế cũng đánh mất ý thức về con người; là một xã hội nhiều khi quảng đại nhưng cũng nhiều mâu thuẫn và bạo lực, chứa chất cùng một nền văn hoá sự sống và sự chết (xem Hiến Chế Vui Mừng và Hy Vọng, các số 4-8).
Trong nền văn hoá hiện nay, có thể nói: thế giới hiện đại đang trải qua một cuộc khủng hoảng văn hoá, thiết yếu là cuộc khủng hoảng về các giá trị, sự đánh mất ý nghĩa cho cuộc sống và hoạt động của con người. Hậu quả là con người sinh ra hoang mang, lo âu, bất ổn trong khi vẫn có lý do để mà hy vọng.
2. Khoa học và sự khôn ngoan
Ngày nay, chúng ta thấy rằng kiến thức khoa học không thể nào thiếu trong cuộc sống thường ngày (với khẩu hiệu: tri thức là sức mạnh). Nhưng ta cũng cần có sự khôn ngoan để sử dụng và làm chủ sức mạnh đó cho hạnh phúc của con người.
Công đồng Vatican II nhận định:
“Trước sự tiến hoá ngày nay của thế giới, càng ngày càng có nhiều người hoặc đặt vấn đề hoặc nhận thức một cách sâu sắc mới mẻ về những vấn đề hết sức căn bản như: con người là gì? Đâu là ý nghĩa của đau khổ, sự dữ, cái chết? Sao chúng còn tiếp tục tồn tại mặc dù đã có bao nhiêu tiến bộ? Bao chiến thắng đạt được với một giá đắt ấy có ích gì? Con người có thể đem lại gì cho xã hội ? Cái gì sẽ tiếp theo sau cuộc sống trần gian này ?.
Giáo hội tin rằng Chúa Ki tô đã chết và đã sống lại cho mọi người. Vì thế, qua Thánh Thần của người, Người ban cho con người ánh sáng và sức mạnh để con người có thể đáp lại thiên chức cao cả của mình. Giáo Hội cũng tin rằng dưới bầu trời này chẳng còn danh hiệu nào khác được ban cho loài người để loài người phải nhờ đó mà được cứu rỗi. Cũng thế, Giáo Hội tin rằng đầu mối, trung tâm và cùng đích của toàn thể lịch sử nhân loại đều ở trong Đức Ki tô là Chúa và là Thầy của Giáo Hội. Hơn nữa, Giáo Hội còn xác nhận rằng qua mọi thay đổi vì nền tảng cuối cùng của những điều không thay đổi này là Chúa Ki tô, Hình Ảnh của Thiên Chúa vô hình, Trưởng Tử giữa mọi loài thụ sinh, Công Đồng muốn nói với mọi người để làm sáng tỏ mầu nhiệm về con người và cùng nhau tìm giải đáp cho những vấn đế chính yếu của thời đại chúng ta. (Hiến Chế Vui Mừng và Hy Vọng, số 10).
Như đã nói trên đây, chính các tiến bộ của khoa học kỹ thuật đáng lý phải phục vụ con người thì lắm lúc lại quay ra đe doạ con người.
Đặc biệt cuộc cách mạng di truyền học đã mở ra những viễn tưởng chóng mặt. Năm 1978 đứa bé đầu tiên được thụ tinh trong ống nghiệm đã ra đời, tên là Louisa Brown. Từ đó cho đến nay không biết bao nhiêu em bé đã ra đời theo phương pháp này. Ngày 11-9-2003, đứa bé thứ 1000 ra đời tại Bệnh viện Từ Dũ thành phố Hồ Chí Minh, nhờ thụ tinh trong ống nghiệm. Từ Dũ hiện là Bệnh viện lớn nhất Đông Nam Á áp dụng phương pháp này.
Với những kỹ thuật mới của di truyền học, người ta có thể chọn phái tính cho trẻ em sẽ ra đời, loại bỏ những đứa mà cha mẹ chúng cho là “không thể chấp nhận”. Đứa bé,  ra đời được phó mặc cho trách nhiệm của cha me và xã hội, như lấy ví dụ trường hợp của đứa bé có hai ngươi mẹ sinh học, người cho trứng và người mang thai. Điều này tạo ra nhưng cảnh rối ren cho việc thi hành trách nhiệm đối với đứa trẻ.
Sẽ ra sao những khái niệm đạo đức và luật pháp như nhân vị, sự sống, sự chết hoặc làm cha làm mẹ? Đâu là những quyền lợi của đứa bé mà khoa học sẽ “tạo” ra?
Trước những vấn đề mới đang được đặt ra, điều đáng chú ý là các nhà khoa học và kỹ thuật cảm thấy bối rối và quay sang hỏi các nhà khoa học nhân văn, nhất là triết học và đạo đức học.
Triết học luôn cần thiết, con người ngày nay khao khát sự “khôn ngoan” không kém gì con người ngày xưa. Tuy nhiên các điều kiện của đời sống hiện đại, vốn hoàn toàn trái ngược với thái độ và cứu cánh của suy tư triết học càng làm cho nó thêm cần thiết. Triết học mời gọi người ta đi tới cái cốt yếu, đặt ra nhưng vấn đề căn bản và khơi dậy lòng khao khát chân lý.
Triết học là cần thiết không những đối với những người có quan tâm đến vận mệnh của thế giới hiện đại mà ngay cả đối với người thường. Dĩ nhiên ở đây ta hiểu triết học theo nghĩa rộng: là một quan niệm sống hợp lý gồm một số nguyên tắc tối thiểu cần thiết giúp người ta định hướng cuộc đời mình, lựa chọn các thái độ và hành động và sống sao cho “phải đạo làm người”.

Fr. Cảnh - Nguyễn Hữu Vương

0 nhận xét:

Đăng nhận xét

 
BACK TO TOP