Subscribe:

Ads 468x60px

Chủ Nhật, 25 tháng 3, 2012

Thừa tác viên của giao ước mới

(Bài giảng mùa chay của cha Raniero Cantalamessa, ofm cap, cho Phủ giáo hoàng với sự hiện diện của Đức Thánh Cha Bênêđictô 16, tại nhà nguyện Mẹ Đấng Cứu Chuộc ở Vatican ngày 05/03/2010)

Chúa đã cho tôi được chứng kiến những ân huệ phi thường mà Giáo hội đang sống trong năm thánh linh mục này. Không thể đếm được những buổi tĩnh tâm của các linh mục trên khắp thế giới, được tác động bởi một tinh thần và một sự khám phá mới về ơn gọi riêng của mình. Một trong những cuộc trong tĩnh tâm này, phải kể đến cuộc tĩnh tâm ở Manila được Hội đồng giám mục Philippines tổ chức, vào tháng giêng vừa qua, quy tụ 5500 linh mục và 90 giám mục. Đó là một cuộc Hiện Xuống mới, nói theo ngôn ngữ của Đức hồng y Tổng giáo phận Manila. Trong một giờ chầu Thánh thể, đáp lời mời của người hướng dẫn, tất cả một giải mênh mông các linh mục mặc lễ phục trắng, một giọng đồng thanh cất lớn: “Lạy Chúa Giêsu, chúng con hạnh phúc là linh mục của Ngài!” Và khi nhìn vào gương mặt của các ngài, thì nhận thấy rằng đó không chỉ là những lời nói suông.
Với số tham dự viên ít hơn, tôi cũng đã được sống kinh nghiệm tương tự như vậy với các linh mục vùng Sabah, ở Malaisia, rồi ở Singapore, và cuối cùng ở trung tâm hành hương Lorette với khoảng 200 linh mục và giám mục Ý. Tất cả xin tôi chuyển Đức Thánh Cha lời chào và lòng biết ơn của các ngài. Điều mà tôi rất vui mừng thực hiện lúc này đây.
1. Những “mầu nhiệm” của Thiên Chúa
Lời Chúa làm sợi chỉ đỏ trong buổi suy niệm này là 1Co 4,1: “Chớ gì thiên hạ coi chúng tôi như những đầy tớ của Đức Kitô, những người quản lí các mầu nhiệm của Thiên Chúa”. Chúng ta đã suy niệm trong Mùa Vọng phần đầu của định nghĩa này: linh mục như là đầy tớ của Đức Kitô, trong sức mạnh và trong sự thánh hiến của Thánh Thần. Trong Mùa Chay này, chúng ta sẽ suy nghĩ phần còn lại: linh mục như “người phân phát những mầu nhiệm của Thiên Chúa”. Tất nhiên, những điều chúng ta nói về linh mục cũng đúng với các giám mục là những người đã lãnh nhận chức tư tế cách tròn đầy.
Hạn từ “mầu nhiệm” có hai ý nghĩa căn bản: Ý nghĩa thứ nhất, là những chân lí được ẩn dấu và mạc khải bởi Thiên Chúa, thiên ý được loan báo trong cách ẩn tàng trong Cựu Ước và được mạc khải cho con người khi đến thời viên mãn; Ý nghĩa thứ hai đó là “những dấu hiệu cụ thể của ân sủng”, đó là các bí tích. Thơ gởi Do thái liên kết cả hai ý nghĩa này trong diễn ngữ “đại diện cho loài người trong các mối tương quan với Thiên Chúa” (pros ton theon); nó nhấn mạnh đến ý nghĩa nghi thức và bí tích khi định nghĩa chức năng của tư tế (nhưng tác giả nói ở đây về chức tư tế nó chung, của Cựu Ước cũng như Tân Ước) là người “để dâng lễ phẩm cũng như tế vật đền tội” (Dt 5,1).
Ý nghĩa thứ hai này được khẳng định đặc biệt trong truyền thống Giáo hội. Thánh Ambrosio đã viết hai khảo luận về những nghi thức khai tâm Kitô giáo, được xem như sự kiện toàn những điều đã được tiên báo trong Cựu Ước; một có tên là “Về các bí tích” và tác phẩm kia có tên là “Về các mầu nhiệm”, mặc dù thực tế đều liên quan đến một chủ đề duy nhất.
Trở về với lời lẽ của thánh Tông đồ, ý nghĩa thứ nhất muốn làm rõ vai trò của tư tế đối với Lời Chúa, ý nghĩa thứ hai nói tới vai trò của thừa tác viên các bí tích. Nói chung, hai ý nghĩa này phác hoạ khuôn mặt của người tư tế như là chứng nhân chân lý của Thiên Chúa và như thừa tác viên ân sủng của Đức Kitô, như là người loan báo và người hiến tế.
Trong suốt nhiều thế kỉ, vai trò linh mục đã bị giản lược gần như chỉ là người chủ sự (phụng vụ) và người hiến tế: “dâng lễ tế và tha tội”. Chính Công đồng Vatican II đã làm sáng tỏ chức năng người loan báo Tin Mừng, bên cạnh chức năng thờ phượng. Phù hợp với những gì hiến chế Lumen gentium đã nói về vai trò giám mục về giảng dạy và thánh hoá, sắc lệnh Presbyterorum ordinis tuyên bố rằng:
“Vì được tham dự chức vụ của các Tông đồ theo phận vụ mình, nên các linh mục được Thiên Chúa ban ơn sủng để làm thừa tác viên của Chúa Giêsu Kitô giữa muôn dân, và thi hành chức vụ thánh rao giảng Tin Mừng để muôn dân trở nên hiến lễ đẹp lòng Chúa và được Thánh Thần thánh hoá (Rm 15,16). Thật vậy, việc loan truyền Tin Mừng của các Tông đồ đã triệu tập và đoàn tụ dân Chúa […] Việc thi hành tác vụ của các ngài bắt đầu bằng việc rao giảng Tin Mừng, múc lấy sức mạnh và năng lực từ hiến tế Chúa Kitô”1
Trong ba lần suy niệm trong Mùa Chay này (Thứ 6 ngày 19/3, lễ thánh Giuse không có bài chia sẻ), một lần sẽ dành cho chủ đề Linh mục thừa tác viên Lời Chúa, lần khác với chủ đề Linh mục thừa tác viên các bí tích, và lần thứ ba, hiện thực hơn với chủ đề Sự đổi mới trong đời sống linh mục bằng việc đối thoại với Chúa.
2. Văn tự và Thần Khí
Từ thế kỉ thứ II, người ta nhận thấy một xu hướng khuân cách chức linh mục Kitô giáo theo chức tư tế Lê vi trong Cựu Ước2 (về phẩm chất đòi buộc, nghi lễ, danh xưng, phẩm phục); Một xu hướng được phản ánh trong những tài liệu có tính luật lệ như Quy chế các tông đồ (Constitutions apostoliques), Giáo huấn người Syri (Didascalie syriaque), và những nguồn tương tự khác. Sự tương đồng bên ngoài khiến chúng ta cảm thấy khẩn thiết phải khám phá lại, như trong dịp này, tính mới mẻ và khác biệt mang tính bản thể của giao ước mới so với giao ước cũ. Tôi muốn lấy lời khẳng định mạnh mẽ của thánh Phaolô làm trọng tâm cho sự suy niệm của chúng ta:
“Không phải vì tự chúng tôi, chúng tôi có khả năng để nghĩ rằng mình làm được gì, nhưng khả năng của chúng tôi là do ơn Thiên Chúa, Đấng ban cho chúng tôi khả năng phục vụ Giao ước mới, không phải Giao ước căn cứ trên chữ viết, nhưng dựa vào Thần Khí. Vì chữ viết thì giết chết, còn Thần Khí mới ban sự sống. Nếu việc phục vụ Lề luật – thứ Lề luật chỉ đưa đến sự chết và được khắc ghi từng chữ trên những bia đá – mà được vinh quang đến nỗi dân Israel không thể nhìn mặt ông Môsê được, vì mặt ông chói lọi vinh quang – dù đó chỉ là vinh quang chóng qua – thì việc phục vụ Thần Khí lại không được vinh quang hơn sao?” (2Co 3,5-8).
Điều mà thánh Tông đồ đối lập giữa văn tự và Thần Khí rõ ràng phát xuất từ một đoạn cũng trong thơ gởi Côrintô mà ngài gọi là bức thơ: “Rõ ràng anh em là bức thư của Đức Kitô được giao cho chúng tôi viết, không phải viết bằng mực đen, nhưng bằng Thần Khí của Thiên Chúa hằng sống, không phải ghi trên những tấm bia bằng đá, nhưng trên những tấm bia bằng thịt, tức là lòng người” (2Co 3,3)
Vậy văn tự là luật Môsê được viết trên các bia đá, và hiểu rộng hơn, tất cả các luật thiết định bên ngoài con người; Thần Khí là luật nội tâm, được viết trong tim, đó là luật mà thánh Tông đồ định nghĩa là “Luật của Thần Khí ban sự sống trong Đức Kitô Giêsu, đã giải thoát ta khỏi luật của tội và sự chết (x. Rm 8,2).
Thánh Augustin cũng đã viết một khảo cứu về chủ đề này – de Spiritu et littera – nó cấu thành một giai đoạn quan trọng trong lịch sử tư tưởng Kitô giáo. Thánh nhân nói rằng, cái mới mẻ của giao ước mới so với giao ước cũ chính là điều Thiên Chúa không bị đóng khung vào việc yêu cầu con người làm hay không làm điều gì, nhưng chính Ngài thực hiện cùng với con người và trong con người điều Ngài đòi hỏi. “Luật của việc làm (loi des oeuvres) yêu cầu kèm theo sự đe doạ, còn luật của đức tin thì đạt được cho người tin ….thông qua luật của việc làm. Thiên Chúa nói với chúng ta: Con hãy làm điều Cha yêu cầu; và bởi luật của đức tin chúng ta thưa với Người: Xin hãy cho con làm điều Cha muốn.”3
Còn hơn là một “chỉ dẫn”, luật mới chính là Thần Khí, là “hành động” là nguyên lí sống động và tích cực. Luật mới là đời sống mới. Sự đối lập giữa văn tự và Thần Khí, trong tư tưởng của thánh Phaolô có nghĩa là sự đối lập giữa Lề luật và ân sủng: “Anh em không còn lệ thuộc vào Lề luật nhưng lệ thuộc vào ân sủng” (Rm 6,14).
Trong giao ước cũ, ý tưởng về ân sủng cũng đã hiện hữu, theo nghĩa là lòng tốt, ân huệ và sự tha thứ của Thiên Chúa: “Ta thương ai thì thương, xót ai thì xót” (Xh 33,19). Điều này ta gặp đầy dẫy trong các Thánh vịnh. Nhưng từ ngữ ân sủng (charis), theo như hiện nay mang một ý nghĩa mới, mang tính lịch sử: Chính là ân sủng đến từ sự chết và sự Phục sinh của Đức Kitô, và nó làm cho tội nhân được công chính hoá. Nó không chỉ liên quan đến một sự sẵn sàng cách vui lòng, mà đến một thực tế, một “trạng thái”: “Vậy, một khi đã được nên công chính nhờ đức tin, chúng ta được bình an với Thiên Chúa, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Vì chúng ta tin, nên Đức Giêsu đã mở lối cho chúng ta vào hưởng ân sủng của Thiên Chúa, như chúng ta đang được hiện nay” (Rm 5,1-2).
Thánh Gioan cũng miêu tả mối liên hệ giữa giao ước cũ và giao ước mới theo cùng một cách thức như thánh Phaolô: “Lề luật đã được Thiên Chúa ban qua ông Môsê, còn ân sủng và sự thật thì nhờ Đức Giêsu Kitô mà có” (Ga 1,17).
Như thế, chúng ta có thể suy ra rằng, luật mới, tức là Thần Khí, theo nghĩa chặt, không phải là luật được Chúa Giêsu ban bố trên núi Bát phúc, nhưng là luật được ghi khắc trong tim vào ngày Hiện xuống. Thật vậy, những đòi hỏi của Tin mừng thì cao trọng và hoàn hảo hơn những đòi hỏi của Luật Môsê; tuy nhiên, tự nó cả hai đều vô hiệu. Nếu sự công bố Luật mới thông qua Tin mừng là đủ, thì sẽ không giải thích sự cần thiết về sự chết của Đức Giêsu, và sự đến của Thánh Thần; Cũng không thể lí giải được tại sao Đức Giêsu trong Tin mừng Gioan lại cho tất cả lệ thuộc vào sự “nâng lên” của Người, hay nói cách khác, chính là cái chết của Người trên thập giá (x. Ga 7,39; 16,7-15).
Chính các Tông đồ là một bằng chứng sống động rằng, điều đó là chưa đủ. Chính các ông đã nghe từ miệng Đức Kitô tất cả những đòi hỏi của Tin mừng, ví dụ như, “ai muốn làm đầu, thì phải là người rốt hết và là tôi tớ mọi người”, nhưng chúng ta thấy rằng họ đều quan tâm cho tới cuối cùng để biết ai trong số họ là người lớn nhất. Chỉ sau khi Thánh Thần đến, họ mới quên mình để chỉ quan tâm đến việc công bố “những kì công của Thiên Chúa” (x. Cv 2,11).
Vì thế, nếu không có ơn bên trong của Thần Khí, thì thậm chí Tin mừng, hay điều răn mới cũng vẫn chỉ là Luật cũ, là văn tự mà thôi. Lấy lại một tư tưởng táo bạo của thánh Augustin, Thánh Tôma viết: “Văn tự chỉ tất cả những văn bản bên ngoài con người, kể cả các bản văn mang tính luân lí được chứa đựng trong Tin mừng; vì vậy ngay cả các văn tự của Tin mừng cũng giết chết nếu, ở trong con người, không được kèm theo ân sủng chữa trị của đức tin”4. Cách rõ ràng hơn, trước đó ngài viết, “Luật mới trước tiên chính là ân sủng của Thánh Thần được ban cho các tín hữu”5
3. Không phải bị ép buộc mà được hấp dẫn
Nhưng Luật mới này, là chính Thánh Thần, đã hoạt động cụ thể thế nào? Nó hoạt động thông qua tình yêu! Luật mới không gì khác hơn điều Đức Giêsu gọi là “điều răn mới”. Thánh thần đã viết Luật mới vào tâm lòng chúng ta bằng cách phú bẩm tình yêu vào lòng chúng ta (Rm 5,5). Đây là tình yêu mà Thiên Chúa yêu chúng ta, đồng thời cũng là tình yêu làm cho chúng ta yêu Chúa và yêu tha nhân. Đó là khả năng mới để yêu thương.
Liệu có mâu thuẫn không khi nói tình yêu như là một “luật lệ”? Câu trả lời là, con người hành động theo hai cách: hoặc không làm một điều nào đó: hoặc bởi bị ép buộc, hoặc được hấp dẫn. Luật bên ngoài dẫn con người đến hành động theo cách thứ nhất, bới sự ép buộc với sự đe doạ sẽ bị trừng phạt nếu không làm; Còn tình yêu dẫn con người đến hành động theo cách thứ hai, tức là bởi sự hấp dẫn. Thực tế, mỗi người được thu hút bởi những gì họ yêu mến, mà không bị bất cứ một ép buộc nào từ bên ngoài. Tình yêu như một “sức nặng” của tâm hồn lôi kéo về đối tượng mình ao ước, ở đó tâm hồn tìm thấy tiếng nói riêng của mình6. Đời sống Kitô giáo phải được sống bởi sự hấp dẫn chứ không phải bằng sự ép buộc.
Vì vậy, tình yêu là một giới luật, “luật của Thần Khí”, theo nghĩa là nó tạo ra nơi con người một động lực thúc đẩy con người làm điều Thiên Chúa muốn, một cách tự động, thậm chí không cần suy nghĩ, bởi vì họ đã lấy ý Chúa làm ý họ và yêu mến tất cả những gì Chúa yêu.
Ta tự hỏi, vậy đâu là chỗ đứng của việc chu toàn lề luật trong kế hoạch của luật Thần Khí? Thậm chí sau khi Đức Kitô đến, Lề luật vẫn tồn tại: Những điều răn của Thiên Chúa, Thập điều; Những đòi hỏi của Tin mừng, sau đó, còn thêm luật Hội thánh. Đâu là ý nghĩa của Bộ giáo luật, luật dòng tu, những lời khấn dòng, nói chung, tất cả những gì nói lên ý muốn khách quan áp đặt lên tôi từ bên ngoài? Đó có phải là “vật lạ” trong tổ chức Kitô giáo?
Trong lịch sử giáo hội, đã có những phong trào nghĩ như vậy và họ đã từ chối tất cả luật lệ, nhân danh sự tự do của Thần Khí, đến độ họ đã lấy chính tên của phong trào là Vô luật (anomistes), nhưng họ luôn bị từ chối bởi quyền bính Giáo hội và lương tâm Kitô giáo. Câu trả lời Kitô giáo cho vấn nạn này đến từ Tin mừng. Đức Giêsu khẳng định rằng Ngài không đến để bãi bỏ lề luật, nhưng để kiện toàn (x. Mt 5,17). Nhưng đâu là sự “kiện toàn” lề luật? Thánh Tông đồ trả lời rằng: Đức ái là luật trọn hảo (x. 1Co 13,10). Đức Giêsu nói rằng, tất cả Lề luật và các Tiên tri đều phụ thuộc vào giới luật yêu thương (x. Mt 22,40).
Như thế sự vâng phục trở nên bằng chứng của việc sống theo ân sủng: “Ai yêu mến Thầy, thì tuân giữ lời Thầy” (Ga 14,15). Tình yêu không thay thế lề luật nhưng “vâng giữ và làm trọn” lề luật. Trong sách triên tri Edêkien, người ta coi khả năng tuân giữ lề luật của Thiên Chúa là ơn của Thần Khí trong tương lai và của trái tim mới: “Ta đặt thần khí mới vào lòng các ngươi, giúp các ngươi bước đi trong thánh chỉ và tuân giữ các mệnh lệnh của Ta” (Ed 36,27). Thánh Augustin viết một cách ngắn gọn rằng: “Lề luật đã được ban cho chúng ta, để chúng ta tìm kiếm ân sủng, và ân sủng đã ban cho chúng ta để bảo đảm sự kiện toàn lề luật”7.
4. Hiện tại hoá thông điệp ân sủng
Cho đến bây giờ chúng ta đã thấy những hệ quả đối với cách sống Kitô giáo do thông điệp của thánh Phaolô về giao ước mới mang lại. Nhưng bây giờ, tôi muốn làm rõ ánh sáng mà thông điệp đem lại đối với vấn đề loan báo Tin mừng trong thế giới hiện tại và việc đối thoại liên tôn, và qua đó, đối với vai trò của linh mục như là thừa tác viên sự thật của Thiên Chúa.
Thánh Augustin viết khảo luận Văn tự và Thần Khí để chống lại bè rồi Pélage, mà theo họ con người có thể tự mình được cứu độ và sự giáng trần của Đức Kitô chắc chắn là một sự trợ giúp đặc biệt nhưng phải là yếu tố không thể thiếu để được cứu độ. Vì theo họ, con người chúng ta đã được Thiên Chúa tạo dựng, phú bẩm cho một lương tâm tự do, và Người đa chỉ cho ta biết thánh ý của Người. Điều đó đã đủ cho chúng ta được cứu độ.
Người ta có thể tranh luận, – các chuyên gia ngày nay đang tranh luận, – để biết liệu thánh nhân đã giải thích đúng tư tưởng của đan sĩ Pélage hay không. Nhưng điều đó không có gì làm chúng ta phải ngạc nhiên. Các giáo phụ khi chống lại lạc giáo thường giải thích cách rõ ràng (theo quan điểm của các ngài!) những điều còn ẩn tàng nơi giáo thuyết của các đối thủ mà không thèm quan tâm đến quan điểm và ngôn ngữ khác biệt của họ. Các ngài quan tâm đến giáo thuyết hơn là con người, chân lí tín lí hơn là chân lí lịch sử. Trái lại, thánh Augustin tỏ ra tôn trọng và lịch thiệp hơn nhiều đối với Pélage so với các giáo phụ khác, ví dụ như Cyrille d’Alexandrie đối với Nestorius.
Sự duyệt lại một các hiện đại các tác giả như Pélage hay Nestorius, không có nghĩa là xét lại bè rối Pélage hay bè rối Nestorius. Sự phân biệt này, thời gian vừa qua, đã góp phần vào việc thiết lập trở lại sự hiệp thông với các giáo hội thuộc Nestorius hoặc Chính thống Syrie (monophysites) Đông phương.
Nhưng những điều đó không mấy quan trọng với chúng ta. Điều quan trọng hơn mà chúng ta cần phải nhớ là, thánh Augustin có lí trong vấn nạn chính yếu: Để được cứu độ, bản tính, lương tâm tự do, và lề luật thì chưa đủ, mà phải có ân sủng, nói cách khác, cần phải có Đức Kitô. Lí luận cách khác có nghĩ là lí luận rằng, việc giáng trần của Đức Kitô là dư thừa, cũng như cái chết và sự cứu chuộc của Người. Điều đó có nghĩa là coi Đức Kitô là mẫu gương cho đời sống chứ không phải là “nguyên lí cứu độ cho những ai vâng phục Người” (Dt 5,9).
Đây chính là điểm mà tư tưởng của thánh Augustin, và trước ngài là tư tưởng của thánh Phaolô, tỏ ra rất thời sự. Theo thánh Tông đồ, điều phân biệt giao ước mới với giao ước cũ, chính là Thần Khí với văn tự, ân sủng với lề luật. Đây chính là điều khác biệt giữa Kitô giáo với các tôn giáo khác ngày nay.
Hình thức có thể thay đổi nhưng bản chất thì vẫn thế. “Công việc của lề luật” hay việc của con người, là tất cả nhưng công việc nhân loại. Một khi sự cứu độ bị lệ thuộc vào công việc nhân loại, nó được xem như sự hiệp thông với Thiên Chúa hay với chính mình, và sự cộng hưởng với năng lượng vũ trụ. Thì nguyên lí cũng vậy: Thiên Chúa không còn trao ban mà bị chinh phục!
Chúng ta có thể diễn tả cách khác như sau. Tất cả các tôn giáo nhân loại và triết lí tôn giáo bắt đầu bằng việc nói với con người điều họ phải làm để được cứu độ: Bổn phận, công việc, việc khổ chế bên ngoài hoặc con đường biện chứng hướng về cái tôi bên trong, cái CÓ hoặc cái KHÔNG. Kitô giáo không bắt đầu bằng việc nói với con người phải làm gì, mà điều Thiên Chúa đã làm cho họ. Đức Giêsu không bắt đầu rao giảng rằng: “Hãy sám hối và tin vào Tin mừng cho tới khi nước Trời đến”; Người bắt đầu bằng: “Nước Thiên Chúa đã đến giữa anh em: Hãy sám hối và tin vào Tin mừng”. Không phải, trước tiên là sám hối, sau đó là ơn cứu độ; nhưng trước tiên là ơn cứu độ, kế đến là sự sám hối.
Chúng tôi xin nhắc lại rằng, trong Kitô giáo cũng có những bổn phận và những giới răn, nhưng những giới răn, kể cả giới răn trọng nhất là yêu Chúa và yêu tha nhân, cũng không phải là điều quan trọng nhất; trước những điều này vẫn là quà tặng và ân sủng. “Chúng ta yêu mến bởi vì Người đã yêu thương chúng ta trước” (1Ga 4,19). Do ân ban mà phát sinh bổn phận chứ không phải chiều ngược lại.
Phần chúng ta, những người Kitô hữu, chúng ta không đối thoại với những tôn giáo khác bằng việc khẳng định sự khác biệt hoặc sự vượt trội của đạo chúng ta; đó có thể là một sự tiêu cực của đối thoại. Chúng ta sẽ nhấn mạnh đến những điều liên kết chúng ta lại với nhau, những mục tiêu chung, bằng cách nhìn nhận tha nhân cũng có quyền (ít nhất một cách chủ quan) nhìn nhận đức tin của họ như là điều quyết định và hoàn hảo nhất. Mặt khác, đừng quên rằng, ai sống một cách nhất quá tôn giáo lề luật với tất cả sự chân thành thì tốt hơn và đẹp lòng Chúa hơn là người thuộc về tôn giáo ân sủng nhưng lại sao nhãng hoàn toàn niềm tin vào ân sủng và thực hành các công việc của đức tin.
Tuy nhiên, tất cả những điều này không nên dẫn chúng ta đến việc để riêng trong ngoặc đức tin của chúng ta, đức tin với sự mới mẻ và sự duy nhất của Đức Kitô. Nó cũng không liên quan đến việc khẳng định sự vượt trội của tôn giáo này trên một tôn giáo khác, nhưng là nhìn nhận tính chuyên biệt của mỗi tôn giáo, biết mình là ai và mình tin vào điều gì.
Thật không khó để giải thích tại sao con người ngày nay không dễ chấp nhận ý tưởng ân sủng cũng như sự phủ nhận mang tính bản năng của họ. Được cứu độ bởi “ân sủng” có nghĩa là bị lệ thuộc vào ai đó. Đây là điều rất khó khăn. Mác đã chứng tỏ điều đó với một tuyên bố khá nổi tiếng: “Một hữu thể chỉ bắt đầu cảm thấy độc lập khi nó là thầy của chính mình, và nó chỉ là thầy của chính mình khi nó phải có bổn phận với chính sự hiện hữu của nó. Một người sống nhờ ơn của người khác bị coi là một hữu thể lệ thuộc [...] Nhưng tôi sống hoàn toàn nhờ vào ơn của một người khác... nếu họ tạo nên tôi, họ là cội nguồn của tôi... Nếu đó không phải là sự tạo thành của chính tôi.”8 Đó là lí do tại sao người ta từ chối một Thiên Chúa tạo thành thì cũng từ chối một Thiên Chúa cứu chuộc.
Đây chính là sự giải thích của thánh Bernard về tội lỗi của Satan: Nó thích là những thụ tạo bất hạnh nhất bởi công trạng của chính nó, hơn là hạnh phúc nhất bởi “ân sủng” của người khác; Nó thích là một hữu thể bất hạnh nhưng toàn quyền hơn là hạnh phúc mà phải lệ thuộc: misere praeesse, quam feliciter subesse9.
Sự từ chối Kitô giáo, phát triển ở một số cung bậc nào đó của văn hoán Tây phương, khi nó không phải là từ chối Giáo hội, hay người Kitô hữu, là sự từ chối ân sủng.
5. “Chúng tôi rao giảng Đức Kitô Giêsu là Đức Chúa”
Trong lãnh vực này, đâu là nhiệm vụ của các linh mục trong tư cách là những người phân phát các mầu nhiệm Thiên Chúa và thầy dạy đức tin? Đó là nhiệm vụ giúp anh em mình sống sự mới mẻ của ân sủng, cũng có nghĩa là sự mới mẻ của Đức Kitô.
Trong Tin mừng, Đức Giêsu dùng thành ngữ “Những mầu nhiệm Nước trời” để chỉ tất cả những lời dạy và đặc biệt, là tất cả những gì liên quan đến con người của Ngài (x. Mt 13,11). Sau biến cố Vượt qua người ta chuyển sang dùng ở số ít hơn là số nhiều, dùng mầu nhiệm thay cho những mầu nhiệm: Tất cả những mầu nhiệm của Thiên Chúa từ nay gồm tóm trong mầu nhiệm đó là Đức Kitô.
Thánh Phaolô nói về “mầu nhiệm Thiên Chúa tức là Đức Kitô, ở đó ẩn chứa tất cả kho tàng khôn ngoan và hiểu biết” (x. Cl 2,2-3). Ngài mời gọi chúng ta nghĩ về Đức Kitô như là một lâu đài mà chúng ta sẽ trải qua những điều ngày càng tuyệt vời khi bước vào đó. Một vũ trụ vật chất với tất cả sự tươi đẹp và sự rộng rãi không thể đo lường được, là hình ảnh duy nhất tương đồng với vũ trụ thiêng liêng là Đức Kitô. Không phải vô nghĩa mà nó được tạo thành “nhờ Người và cho Người” (Cl 1,16).
Thánh Tông đồ đã định nghĩa thật rõ ràng hơn tất cả những điều khác rằng, trọng tâm và chính yếu của sự loan báo Kitô giáo là diễn tả mầu nhiệm Đức Kitô dưới dạng thức một chương trình như một sự biểu lộ: “Chúng tôi loan báo một Đức Kikô chịu đóng đinh” (1Cr 1,23), và “Chúng tôi không rao giảng chính mình mà rao giảng Đức Kitô Giêsu, là Đức Chúa” (2 Cr 4,5). Những lời trên chứng tỏ rằng Kitô giáo không phải là một giáo điều nhưng là một con người.
Nhưng trong thực hành, việc rao giảng “Đức Kitô chịu đóng đinh”, hoặc “Đức Kitô Giêsu là Đức Chúa” có ý nghĩa gì? Điều này không có nghĩa là lúc nào cũng nói và chỉ nói về Đức Kitô của lời rao giảng Kerygma, hay đức Kitô của tín lí, nghĩa là biến lời rao giảng thành những bài Kitô học. Đúng hơn điều này có nghĩa là “Qui tụ muôn loài dưới quyền một thủ lãnh là Đức Kitô” (Ep 1,10), xây dựng mọi sự trên Người, làm cho mọi sự phục vụ dẫn con người đến “mối lợi tuyệt vời được biết Đức Kitô” (Pl 3,8).
Đức Giêsu phải là đối tượng mô thức chứ không nhất thiết là đối tượng vật chất của sự rao giảng. Nó cung cấp thể thức, làm nền tảng và uy thế của tất cả sự rao giảng, là linh hồn và ánh sáng của sự rao giảng Kitô giáo. Thánh Bernard đã thốt lên rằng “Mọi lương thực cho tâm hồn đều khô khan, nếu không trộn thêm dầu; thật nhạt nhẽo nếu không cho thêm muối. Điều bạn viết sẽ không có mùi vị gì – non sapit mihi –,  nếu trái tim Đức Giêsu không đập ở đó – nisi sonuerit ibi Cor Jesu”10
Trong Phụng vụ giờ kinh bằng tiếng Đức, le Stundengebet, có một thánh thi (kinh sáng thứ 3 tuần II), mà tôi rất thích ngay từ lần đọc đầu tiên. Nó bắt đầu thế này: “Göttliches Wort, der Gottheit Schrein, für uns in dein Geheimnis ein” (Lạy Ngôi lời vĩnh cửu, Thiên Chúa hằng hữu và chân thật, xin cho con đi vào trong mầu nhiệm của Ngài). Thành ngữ “Mầu nhiệm Đức Kitô” là đầy đủ nhất: nó chứa đựng hữu thể và hành động, nhân tính và thiên tính, sự hiện hữu từ trước và sự nhập thể, những lời tiên báo Cựu ước và sự ứng nghiệm khi thời gian viên mãn. Chúng ta có thể lập lại như một lời cầu nguyện: “Lạy Ngôi lời vĩnh cửu, Thiên Chúa hằng hữu và chân thật, xin cho con đi vào trong mầu nhiệm của Ngài.”
Chú thích:
1 PO, 2.
2 Cf. J.-M. Tillard, « Sacerdoce », in DSpir. 14, col.12
3 Augustin, De Spiritu et littera, 13,22.
4 Thomas d'Aquin, Summa theologiae, I-IIae, q. 106, a. 2.
5 Ibid., q. 106, a. 1 ; cf. Augustin, De Spiritu et littera, 21, 36.
6 Augustin, Commenaire de l'Evangile de Jean, 26, 4-5 : CCL 36, 261 ; Confessions, XIII, 9.
7 Augustin, De Spir. et litt. ,19,34.
8 C. Marx, Manuscrits de 1844, in Gesamtausgabe, III, Berlin 1932, p. 124 et Critique de la philosophie du droit de Hegel, in Gesamtausgabe, I, 1, Francofort sul M. 1927, p. 614s.
9 Bernard de Clairvaux , De gradibus humilitatis, X, 36 : PL 182, 962.
10 Bernard de Clairvaux, Sermones super Canticum, XV, 6: Ed. Cistercense, Roma 1957, p.86.

(Thông Phán chuyển ngữ từ bản tiếng Pháp)

0 nhận xét:

Đăng nhận xét

 
BACK TO TOP