Subscribe:

Ads 468x60px

Thứ Sáu, 29 tháng 3, 2013

MƯỜI HAI ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ NGÀY LỄ “NOEL”


Thanh Hoài

Nguồn gốc chữ “Noël”
Trong ngôn ngữ Latinh khi gọi về Ngày sinh nhật của Đức Chúa Giêsu Kitô, người ta gọi là “Festum Nativitatis Domini Nostri Jesu Christi” hay ngắn gọn hơn “ Dies Natalis Domini” có nghĩa là Ngày sinh của Đức Chúa. Từ đó, nẩy sinh nhiều kiểu gọi bình dân nơi các ngôn ngữ Châu Âu, như: “Natale” (Ý ngữ); “Navidad” (Tây Ban Nha); “Natal” (Bồ Đào Nha); ở  Pháp: khoảng năm 1120 là “Nael”  và rồi cuối cùng khoảng năm 1175 là “NOËL”.

Nguồn gốc ngày 25-12
Trong Buổi triều yết chung ngày 23-12-2009, Đức Giáo Hoàng Bênêdictô XVI đã nói:
Thánh hiến Đền Thờ Giêrusalem được thiết định bởi Giuđa nhà Macabê vào năm 164 trước Công nguyên. Sự trùng hợp ấy sẽ có nghĩa là với việc Chúa Giêsu sinh ra, như ánh sáng Thiên Chúa xuất hiện giữa đêm đen, đó mới đích thực là hành động thánh hiến đền thờ, đó mới đích thực là biến cố Thiên Chúa đến trên trái đất này.
Trong cộng đồng Kitô giáo, Ngày Lễ Noël chính thức được định hình cách dứt khoát kể từ thế kỷ IV sau Công nguyên, khi Ngày Lễ Noël hoàn toàn thế chỗ cho ngày lễ của người La Mã thờ “Mặt trời không thể bị đánh bại” (“Sol invictus”, le soleil invincible), với ý nghĩa việc Đức Kitô sinh ra chính là chiến thắng của ánh sáng thật trên bóng tối là sự ác xấu và tội lỗi.
Tuy nhiên, bầu khí thuộc linh đặc biệt và mãnh liệt của Ngày Lễ Noël chỉ bắt đầu từ Thời Trung Cổ, nhờ thánh Phanxicô Assisi, vốn say mê khía cạnh con người của Đức Giêsu, Thiên Chúa ở cùng chúng ta….” [1].
Tại sao Lễ Đêm và Nửa Đêm?
Niên lịch phụng vụ của Giáo Hội sơ khai không khởi nguyên từ Biến cố Sinh ra của Đức Giêsu mà từ niềm tin vào Sự Phục sinh của Ngài. Vì thế, ngày lễ cổ xưa nhất của cộng đồng Kitô giáo không phải là Noël mà là Ngày Lễ Phục Sinh, vốn đuợc cử hành cách long trọng với: Thánh lễ Vọng Phục sinh Đêm Thứ Bảy thánh; Thánh lễ chính ngày; Tuần Tám ngày tiếp theo. Khi trở thành một trong những Ngày Lễ trọng, Lễ Noël được Giáo Hội cử hành theo khuôn mẫu gần như Đại Lễ Phục Sinh, nghĩa là cũng với: Thánh lễ Vọng vào buổi chiều ngày 24-12; Thánh lễ Đêm (hoặc Nửa Đêm); Thánh lễ Rạng Đông; Thánh lễ Ban ngày; Tuần tám ngày tiếp theo…[2]. Đó chính là nguồn gốc của Lễ Đêm hoặc Nửa Đêm Noël…
Hang Đá và Máng Cỏ
Ở Bethlêem, nơi hang đá mà theo truyền tụng là nơi Chúa Giêsu đã được sinh ra: kể từ đó, gần như khắp nơi trong các xứ sở theo Kitô giáo người ta rập khuôn lại những hang đá theo mẫu hang đá ở Bethlêem.

Mãi đến thế kỷ XV, xuất hiện ở Ý các Máng Cỏ thường xuyên trong các nhà thờ. Từ thế kỷ XI, đã thấy ra đời các cảnh diễn phụng vụ trong các nhà thờ; các cảnh diễn này lấy bàn thờ làm trung tâm điểm với ý tưởng coi bàn thờ như là chính Máng Cỏ, vì chính bàn thờ là nơi mà Đức Giêsu Kitô hiện diện nơi bánh và rượu đã được thánh hiến.  Chính trong tinh thần đó, Thánh Phanxicô Assisi đã cử hành Thánh lễ Noël năm 1223 cho cư dân Greccio vùng Ombrie (nước Ý) trong một hang đá mà trong đó ngài trang hoàng một máng cỏ với cỏ khô và còn dẫn đến đó một con bò và một con lừa thực sự [3] với ý nghĩ chỉ có cách đó mới có thể đánh động được lòng của những người nông dân chất phác và giúp họ mường tượng ra được phần nào khung cảnh mà chính Đấng Cứu Độ đã  đến với loài người chúng ta.
Sau này, các cảnh diễn đó được chuyển dịch ra nơi cửa chính tiền sảnh của các nhà thờ vốn thích hợp hơn để hoạt diễn. Lúc bấy giờ, người ta cho hoạt diễn Chúa Hài Nhi và Mẹ Ngài. Về sau, các cảnh diễn phụng vụ đó bị loại bỏ dần, và xuất hiện một loại hình mới: đó là cảnh diễn các mục đồng và các nhân vật Chúa Hài Nhi - Mẹ Maria - Thánh Giuse và thậm chí cả bò lừa nói được, những cảnh diễn có lớp lang cách bình dân đó được diễn ra trước máng cỏ…
Theo truyền thống lâu đời, cách bố trí các nhân vật trong Hang đá-Máng cỏ thông thường như sau: Chúa Hài nhi Giêsu được đặt ở trung tâm Hang đá-Máng cỏ, được bao bọc chung quanh bởi Đức Maria và Thánh Giuse; ngoài ra, còn có một con lừa mà theo truyện kể Đức Maria bụng mang dạ chửa đã cưỡi trên đó để đi đường đến Bethléem, và một con bò mà theo truyền thống đã sưởi ấm cho Hài nhi Giêsu bằng hơi ấm của mình. Có điều cần lưu ý là Đức Maria thường được trình bày như đang quì gối trước Hài nhi con mình và ăn mặc như phụ nữ bình thường, mặc dù ngài vừa mới sinh con, nhằm muốn nói lên rằng dù sinh con, nhưng Đức Maria không phải chịu những đau đớn như thường tình của các bà mẹ khi phải sinh con. Đồng thời, người ta cũng còn đặt vào nơi Hang đá-Máng cỏ những chú mục đồng cùng với những con chiên, con cừu, bởi vì chính họ là những người đầu tiên được loan báo cho biết việc Đức Kitô được sinh ra.
Ngoài ra, thông thường người ta còn trang trí một ngôi sao trên chóp đỉnh Hang đá-Máng cỏ mà theo Thánh Kinh vốn đã hướng dẫn và dẫn đưa Ba Nhà Đạo sĩ tìm gặp được Chúa Hài nhi Giêsu mới sinh ra. Dựa trên sách ngụy thư, người ta còn gọi tên Ba Nhà Đạo sĩ này lần lượt là: Gaspard, Melchior và Balthasar, mà màu da và cách ăn mặc theo kiểu tượng trưng cho toàn thể các dân tộc trên trái đất này. Có người chỉ đặt tượng Ba Nhà Đạo sĩ vào Ngày Lễ Hiển linh mà thôi; có người thì đặt trong nhà, rồi từ từ cho Ba Nhà Đạo sĩ tiến về Hang đá-Máng cỏ. Có nơi, giữa những nhân vật này, người ta còn trang trí thêm một hay nhiều vị thiên thần nữa.
Cây Noël
Nguồn gốc Cây Noël không phải như một số người lầm tưởng là có xuất xứ từ một tập tục dân ngoại ở Đức, mà thực ra là một tập tục có nguồn gốc Kitô giáo vốn liên kết cùng lúc hai biểu tượng: Ánh Sáng và Sự Sống.
Cây Noël thực thụ chỉ xuất hiện vào thế kỷ XVI tại vùng Alsace (ngày nay là vùng Đông-Bắc nuớc Pháp). Thế kỷ tiếp theo, một tập tục mới ra đời đó là việc người ta thắp sáng Cây Noël với những bóng đèn thắp sáng. Vào thế kỷ XIX, tập tục này trở thành phổ biến trong cả vùng Bắc Âu châu. Vào năm 1837, tập tục này du nhập vào nước Pháp qua trung gian vị hôn thê gốc Đức của Công tước vùng Orléans. Năm 1912, cư dân thành phố Boston (Hoa Kỳ) có sáng kiến dựng lên giữa nơi công cộng  những Cây Noël được thắp sáng: sáng kiến này sau đó gặt hái được thành công rực rỡ nơi tất cả các xứ sở có truyền thống Kitô giáo, và thậm chí cả nơi những vùng lương dân…
Có nhiều kiểu trang trí Cây thông Noël:
·        Một ngôi sao trên đỉnh cây thông: nhằm nhắc nhớ đến ngôi sao ngày xưa đã dẫn đường cho Ba Nhà Đạo sĩ tìm gặp được Hài nhi Giêsu; đôi khi, ngôi sao được thay thế bằng một cái chóp trên đỉnh cây thông. Theo truyền thống, ngôi sao này thường được gắn lên đỉnh cây thông bởi em bé trẻ nhất trong gia đình;
·        Các vòng hoa hay chuỗi hoa: đơn giản hay có ánh sáng (nhấp nháy hay không, có nhiều màu hay chỉ là màu trắng), với vật liệu thay đổi tùy ý (những băng giải, những xâu chuỗi ngọc hay những vật dụng khác, v.v…);
·        Những hình cầu tròn Noël: lóng lánh và có nhiều màu sắc khác nhau;
·        Những vật dụng treo khác có một chút liên quan nào đó với Ngày lễ Noël, đặc biệt: các thiên thần nhỏ, các Ông Già Noël, các hình thu nhỏ các đối tượng bằng gỗ, những giải ngoằn ngoèo như hình con rắn nhiều màu và ngay cả những bóng điện được thắp sáng;
·        Các “lọn tóc thiên thần”: những giải giây màu trắng rất mịn;
·        “Những cục tuyết đọng lại”: bằng thủy tinh, bằng nhựa, hay đơn giản những giải băng nhỏ bằng nhôm như cái giữ cho tuyết đọng lại được trên cây vào mùa đông;
·        Những quà tặng Noël: không phải là những phụ tùng trang trí chính thức, nhưng được đặt dưới chân cây thông trong đêm vọng Ngày Lễ Noël như để tăng thêm màu mè một chút cho cây thông thêm đẹp đẽ…
Ông Già Noël là ai?
Trước khi hình ảnh Ông Già Noël như hiện nay trở thành phổ biến khắp nơi, dù chỉ mới đây thôi, thì trước đó, thời Kitô giáo xa xưa, chính Thánh Nicolas mới là người được người ta gán cho sứ mạng phát quà ban thưởng cho các trẻ em; có truyền thuyết gán cho Thánh Nicolas là đấng bảo trợ cho các trẻ em. Một kỵ sĩ vùng Lorraine (Pháp), từ cuộc Thập tự chinh, đã mang về một chút hài cốt mà người ta gọi là của vị thánh này, vốn đã được sùng kính rộng rãi ở Đông Phương. Thánh Nicolas đã trở thành vị thánh  rất bình dân đối với cư dân vùng Lorraine, vùng Flandres và ở Anh quốc (Santa Claus); người ta nói với các trẻ em rằng trong ngày lễ kính ngài, ngày 6-12, thánh Nicolas sẽ đi từ mái nhà này sang mái nhà khác, rồi vào nhà qua ống khói (nếu có) để đặt các quà tặng và kẹo mứt vào trong các đôi giày đặt sẵn trước lò sưởi hay dưới gốc cây thông Noël trong nhà. Đôi khi, đi theo cùng với thánh Nicolas còn có một “ông kẹ” có trọng trách phạt các trẻ em không vâng lời.

Về sau, hình ảnh vai trò Chúa Hài Nhi Giêsu dần dần chiếm lĩnh vai trò của thánh Nicolas (nhưng nơi vùng Lorraine và các dân cư gốc Flandres, hình ảnh thánh Nicolas vẫn không bị xóa mất hoàn toàn): từ đây, người ta gán cho Chúa Hài Nhi Giêsu gần như tất cả công việc mà thánh Nicolas đã từng làm, nhưng, dĩ nhiên, không còn phải vào ngày  6 tháng 12 mà vào đêm từ ngày 24 đến 25 tháng 12 hằng năm…
Giữa thế kỷ XIX, Ông Già Noël xuất hiện ở Hoa Kỳ, dung mạo na ná thánh Nicolas, với dáng vẻ một ông già hơi “qủi quái” nhưng dễ thương… Sau thế chiến thứ I, Ông Già Noël “mang quốc tịch Mỹ” du nhập vào Châu Âu, và dần dần ngự trị ở nơi đây, chủ yếu do hai nguyên nhân: lợi nhuận kếch sù mang lại do các dịch vụ liên quan Ông Già Noël; và nhằm đáp ứng nguyện vọng của một số người muốn mừng lễ Noël mà không cần chiều kích tôn giáo… Từ đó, truyền thuyết đẹp đẽ về Chúa Hài Nhi Giêsu tặng quà cho trẻ em cũng dần biến mất!
Bữa Tiệc Đêm Noël
Ở Pháp, hạn từ “Réveillon” xuất hiện từ những năm 1526 và ban đầu có nghĩa là “bữa ăn muộn trong đêm”. Kể từ năm 1762, hạn từ này có nghĩa là “Bữa tiệc đêm Noël” và từ năm 1900 có nghĩa “Đêm giao thừa Năm mới dương lịch”.
Một số thức ăn truyền thống trong đêm Noël
·        Ở Pháp, Bỉ, Anh: thịt gà tây mái được nhồi với hạt dẻ.

·        Ở Hoa Kỳ: thịt gà tây mái được ủ lạnh với những cánh hoa hồng được nhúng lâu giờ trong rượu vang.
·        Ở Québec (Canada): thịt gà tây mái được nhồi với những mẩu bánh mì rán và hoa xôn (sauge).
·        Ở Hy lạp: thịt gà tây mái được nhồi với thịt và nấm.
Ở Pháp, Bỉ và Québec, Liban và nói chung là các nuớc nói tiếng Pháp, bữa tiệc Noël thường được kết thúc với việc thưởng thức món tráng miệng “bánh ngọt Noël có hình khúc củi” (bûche de Noël).  Nguồn gốc của bánh này đã từ rất lâu nhiều thế kỷ, ở Châu Âu, trong đêm vọng ngày Lễ Noël, người ta có thói quen đốt trong lò suởi trong nhà một khúc củi rất lớn làm sao để nó bị đốt cháy từ từ, và kéo dài được trong vòng 12 ngày. Truyền thống vẫn muốn rằng một thứ bánh ngọt Noël có hình khúc củi đó nên làm với vật liệu chính là kem bơ, nhưng đã từ nhiều năm, một số người lại còn thích nó được ướp lạnh nữa. Những hương vị chính của một cái bánh ngọt Noël có hình khúc củi là: phải có mùi vani, có mùi kẹo hạnh ngào đường, có mùi rượu mạnh hiệu Grand Marnier, có mùi cà phê, có mùi sôcôla và dâu tây.
Bánh ngọt Noël có hình khúc củi, dù có ướp lạnh hay không, tuyệt đối phải được trang hoàng với những biểu hiện làm bằng đường hay bằng nhựa khác nhau như: Ông già Noël, cái rìu, cái cưa, nấm, con yêu tinh, v.v…
Quà tặng Noël
Theo nhãn quan Thánh Kinh, việc tặng quà này nhắc nhớ lại việc các mục đồng và ba nhà đạo sĩ đã tặng quà cho Chúa Hài nhi Giêsu.
Theo nhãn quan thần học, việc tặng quà nhắc nhở cho những người kitô-hữu nhớ rằng “chính Thiên Chúa đã tự ban tặng chính Ngài cho chúng ta”.
Còn theo nhãn quan xã hội học, mùa Noël, dù đủ thứ lễ nghi, vẫn có những tập tục đáng lưu giữ: thí dụ, ngay cho dù chúng ta đang phải sống trong một xã hội nặng đầu óc kinh doanh, trục lợi và vị kỷ, nhưng trong tập tục tặng quà cho nhau đó vẫn có một điều gì đó rất đẹp đó là sự cho đi, sự trao tặng vốn là những điều tạo nên căn tính đích thực của con người. Cách nào đó có thể nói qua việc tặng quà chúng đã tạo ra được, gìn giữ được và làm cho chắc thêm những sợi dây liên kết giữa con người với con người.
Một số lời cầu chúc Noël
o   Anh:                           Merry Christmas!
o   Đức:                            Fröhliche Weihnachten!
o   Tây Ban Nha:           Feliz Navidad!
o   Phần Lan:                  Hyvää Joulua!
o   Hy Lạp:                     Кαλά Χριστούγευυα!
                                    (Kala Khristougenna!).
o   Hungari:                    Boldog karàcsonyt!
o   Italia:                          Buon Natale!
o   Bồ Đào Nha:             Feliz Natal!
o   Na Uy:                       Gledelig Jul!
o   Đan Mạch:                Gloedelig Jul!
o   Thụy Điển:               God Jul !
o   Hà Lan:                     Vrolijk Kerstfeest!
o   Rumani:                    Crăciun Fericit!
o   Bungari:         Tchestito Rojdestvo Hristovo!
o   Serbia:            Xpucmoc ce poðu/Hristos se rodi!
o   Slovakia:       Veselé Vianoce!
o   Slovênia:       Srecen Bozie!
o   Ba Lan:          Wesolych Świat!
Nguồn gốc Thiệp Noël [4]
Năm 1843, Sir Henry COLE, người bạn thân của Horsley, và đồng thời là một thương gia giàu có ở Anh, đã nhờ Horsley thiết kế cho mình một tấm thiệp đẹp để gửi cho các người thân và bạn bè nhân dịp Lễ Noël. Và thế là, Horsley, ngay năm đó (1843), đã trình làng tấm thiệp Noël đầu tiên trên thế giới là kiểu tranh ba phần được vẽ bằng tay: phần giữa mô tả cảnh một gia đình quây quần bên bữa tiệc Noël; hai phần còn lại mô tả cảnh trẻ em nghèo được cho ăn no và mặc ấm. Trên tấm thiệp Noël đầu tiên này, nổi bật câu chúc mừng: “Merry Christmas and a happy new year to you!” (Chúc bạn Giáng sinh vui vẻ và một năm mới hạnh phúc). Với mẫu thiệp Noël này, Henry Cole đã cho ra lò 1000 tấm thiệp, và hiện nay có lẽ chỉ còn khoảng 12 tấm còn nằm đâu đó trong các bộ sưu tập cá nhân hay ở các viện bảo tàng nào đó.
Thiệp Noël, lúc đầu, bùng phát ở Anh quốc, nhất là khi chính phủ nước này thông qua một đạo luật vào năm 1846 cho phép người dân có thể gửi thư đến bất kỳ nơi nào trong nước với giá rẻ. Trong suốt 10 năm sau đó, thiệp Noël trở thành mốt thịnh hành ở nước Anh, và không bao lâu sau đó lan tràn sang cả nước Đức. Tuy nhiên, phải 30 năm sau đó thì người Mỹ mới hào hứng đón tiếp làn sóng thiệp in này.
Năm 1875, Louis PRANG, một thợ in người Đức sống tại Boston (Mỹ), bắt đầu tung ra thị trường các loại thiệp in chất lượng cao, và nhanh chóng trở thành “cha đẻ các loại thiệp Noël ở Mỹ”. Tranh trên thiệp của Prang rất đa dạng, từ tranh Đức Thánh Mẫu Maria, đến cây cối được trang hoàng (thí dụ: cây tầm gửi, cây nhựa ruồi hay ôrô, cây trạng nguyên…), ông già Noël, các loài hoa với muôn sắc màu như hoa hồng, hoa cúc, hoa phong lữ… thường với một giá bán rất cao. Thiệp của Prang được công chúng đánh giá rất cao, do Prang đã dày công pha trộn đến 20 sắc màu trên một tấm thiệp.
Chín bản thánh ca được nhiều người ưa chuộng
1.      SILENT NIGHT (Franz Grubert-Joseph Mohr);
2.      COME, ALL YE FAITHFUL
3.      JINGLE BELLS
4.      JOY TO THE WORLD
5.      THE FIRST NOËL
6.      HOLY NIGHT
7.      WE WISH YOU A MERRY CHRISTMAS
8.      HANG BÊLEM
9.      CAO CUNG LÊN




[1] Xem ĐGH. Bênêđíctô  XVI, Diễn từ trong buổi triều yết chung ngày 23-12-2009.

[3] Theo Ngụy thư  “Tin mừng theo thánh Matthêu” được viết khoảng thế kỷ VI.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét

 
BACK TO TOP