Basile
Ấn
Độ là một đất nước vô cùng phong phú đa dạng hội đủ mọi sắc thái về điều kiện tự
nhiên. Đây là một bán đảo rộng lớn ở Nam Á. Nó nhìn như một hình tam giác khổng
lồ với đáy là dãy Himalaya. Còn đối với trí tưởng tượng phong phú của mình, người
dân Ấn Độ hình dung đất nước họ như một nàng tiên cá xinh đẹp có mái tóc bạch
kim dài tung bay trong mây trời Himalaya và có cái đuôi cá vẫy vùng trong Ấn Độ
Dương xanh thẳm. Himalaya là nơi khơi nguồn của hai con sông: sông Ấn và sông Hằng;
và chính từ “tập hợp” núi – sông này đã khởi đầu cho nền văn minh Ấn Độ, và cũng
là nơi mà, đối với người Ấn, những vị thần ngự trị. Từ đó phát xuất ra những
tôn giáo gắn chặt với nền văn hóa của Ấn Độ. Có thể nói rằng Ấn Độ là một
dân tộc mộ đạo bậc nhất thế giới. Đối với người Ấn, tôn giáo còn cốt yếu hơn cả
chính trị. Và trong suốt mấy ngàn năm qua, tôn giáo đã đi sâu vào đời sống văn
hóa của người dân Ấn. Bởi vì nơi đây là nơi khai sinh ra nhiều tôn giáo mà
trong đó có hai tôn giáo lớn đó là Phật giáo và Hindu giáo. Hơn nữa, nơi đây
cũng là nơi tụ họp của hầu hết các tôn giáo lớn trên thế giới như: Thiên Chúa
giáo, Hồi giáo, Do Thái giáo,… Nhiều học giả nói: “Nền văn hóa - văn minh Ấn
Độ mang đậm nét tôn giáo”. Để hiểu rõ điều này, chúng ta xem xét những khía cạnh
khác nhau trong đời sống văn hóa của người Ấn.
Về mặt lịch sử, người Ấn đã có những hoạt động văn hóa về
sinh hoạt tôn giáo ngay từ thời tiền sử, thời Mohenjo-daro và Harappa, tuy rằng
chưa có các đền đài để thờ cúng. Ngành khảo cổ học đã tìm thấy những bức tượng
nhỏ bằng đất nung hình người phụ nữ, có lẽ đây là sự phụng thờ các nữ thần Mẹ,
và tượng người đàn ông có lẽ là một Yogi trong văn hóa phồn thực. Rồi đến các
nghi lễ hiến tế với nghi thức hiến sinh trong đạo Veda, trong thời Arya, với
tác phẩm được viết ra là kinh Veda, thể hiện sự hòa điệu giữa vũ trụ và con người.
Kế tiếp là kinh Upanishad của đạo Balamôn nhấn mạnh việc dùng tri thức để thực
hiện sự hòa đồng với vũ trụ, tìm sự giải thoát. Đến sự hình thành Hindu giáo lấy
cả kinh Veda và kinh Upanishad làm nền tảng. Tới vương triều Ashoka (273 – 232
TCN), Phật giáo được đề cao và phát triển mạnh trong đời sống văn hóa và tâm
linh; họ không còn mang những đội quân hùng mạnh đi xâm lược nữa mà lại phái
các phái đoàn đi truyền bá lòng từ bi hỷ xả của Phật. Tới thế kỷ XIII, quốc
vương Sultan đã mở đầu cho vương triều Hồi giáo. Sau đó ba thế kỷ, triều đại
Mughul cố gắng đưa Ấn giáo và Hồi giáo dung hòa với nhau, nhờ đó thúc đẩy văn
hóa Ấn Độ phát triển trên những con đường mới, đạt được những thành tựu quan trọng
về nhiều mặt: tôn giáo, văn học và nghệ thuật.
Về
mặt văn học nghệ thuật, nhiều nhà nghiên cứu nói: “Ở Ấn, tôn giáo ‘đọc’ cho văn
học ‘chép’”. Gần như toàn bộ tác phẩm văn học Ấn Độ, theo cách này hay cách
khác, đều liên quan đến đề tài tôn giáo, thể hiện những tư tưởng tôn giáo.
Chúng ta có thể thấy các tác phẩm nổi tiếng mang đặc trưng của tôn giáo như:
kinh Veda, kinh Upanishad, hay hai sử thi vĩ đại Mahabharata và Ramayana. Đối với
người Ấn, hai sử thi này còn hơn cả những kiệt tác văn học. Bởi vì, những sử
thi này không hề cấm cản bất cứ thành phần nào trong xã hội Ấn Độ đọc nó; không
giống như những kinh điển tôn giáo như Veda chỉ cho một số tầng lớp trên của xã
hội đọc. Nơi những sử thi này người dân tìm được những chân lý tôn giáo, triết
học, những hiểu biết và thể nghiệm cuộc sống chứa đựng trong đó. Thủ tướng J.
Nehru nói về hai sử thi này: “Tôi không hề biết có bộ sách nào ở bất kỳ đâu lại
có một ảnh hưởng liên tục và lan tràn như thế với tư tưởng quần chúng như hai bộ
sử thi này”. Điều đặc biệt là hai sử thi này được thể hiện bằng nhiều cách khác
nhau và được tiếp nhận tùy mức độ tinh thần khác nhau của mỗi người dân. Về
hình thức thể hiện có: đọc tụng (như tụng kinh), kể chuyện, bình giảng hay biểu
diễn trên sân khấu. Còn về tinh thần tiếp nhận thì, có người tiếp nhận chúng
như những truyện kể bình thường, có người tiếp nhận nó như những tác phẩm văn học
kiệt xuất, có người lại tiếp nhận nó như những bản thánh kinh. Qua đó ta
thấy, sự sáng tác của các nghệ sĩ Ấn Độ cũng được nhìn như một nỗ lực tôn giáo
liên quan tới các tác phẩm tâm linh cho phép người bình dân Ấn tiếp nhận được
những hình ảnh thần linh mà họ tôn thờ. Ở Ấn Độ, phải hiểu tinh thần tôn giáo
theo một cách rộng, nghĩa là hiểu nó như một cách sống, một cách nhìn thế giới,
tinh thần tôn giáo hầu như đồng nghĩa với văn hóa. Tinh thần đó nằm trong tâm hồn
của mỗi người dân Ấn, chứ không phải chỉ giới hạn trong giới tu sĩ khổ tu. Khổ
hạnh, thần bí của các tu sĩ không phải là tất cả bộ mặt tinh thần tôn giáo Ấn Độ,
mà là sự kết hợp hài hòa thống nhất giữa siêu thoát và trần thế, khổ hạnh và hưởng
lạc… Tinh thần tôn giáo đó vẫn còn được thể hiện trong những bài thơ hiện đại của
Rabindranath Tagore; những bài thơ của ông mang đậm tính tâm linh.
Về
nghệ thuật, toàn bộ nghệ thuật Ấn Độ cách này hay cách khác và ở những mức độ
khác nhau luôn gắn chặt với tôn giáo. Như tòa nhà chính phủ là nơi tụ họp kiến
trúc của các tôn giáo: chóp nhọn của Phật giáo, chóp bầu của Hồi giáo, cột hoa
văn của Ấn Độ giáo và kiến trúc tổng thể của Kitô giáo. Cả nghệ sĩ sáng tạo lẫn
những người chiêm ngưỡng, những tác phẩm làm ra luôn mang những vẻ đẹp lôi cuốn
nhưng không bao giờ rời xa mục đích cuối cùng là mở ra những trang nhất định của
một cuốn Kinh Thánh nào đó với những biểu tượng, những huyền thoại trong thần
phả, những giáo lý, những niềm tin và thuyết giảng tôn giáo. Những đền, chùa
luôn luôn là những trung tâm hoạt động tôn giáo, và cũng là những trung tâm văn
hóa – xã hội của đời sống cộng đồng.
Về
đời sống xã hội, có bốn đẳng cấp chính, thứ tự là: Brahmin, Kshatrya, Vaishya,
Sudra và một đẳng cấp thứ năm bị coi là ngoài lề xã hội là Paria. Về mặt tôn
giáo, chỉ có ba đẳng cấp đầu mới được tham dự vào các nghi lễ tôn giáo, được thụ
giáo các sư phụ Brahmin và được nghiên cứu kinh Veda; và chỉ có đẳng cấp
Brahmin mới có quyền thuyết giải kinh Veda cho quần chúng, đồng thời chỉ có đẳng
cấp này mới có quyền trong các nghi lễ thờ phụng.
Về
phong tục tập quán, đời sống hôn nhân gia đình thì đã được quy định sẵn trong
các sách Kinh Thánh, như trong Mahabharata, và cứ thế mà sống. Đạo Balamôn quy
định việc vệ sinh, tắm rửa, chà răng… Hay những người theo Hindu giáo mặc loại
trang phục Dhoti trong đời sống và đặc biệt trong các nghi lễ của họ.
Khi nhìn vào nền văn hóa Ấn Độ chúng ta thấy điều kỳ
diệu đó là sự tồn tại mãi với thời gian của những giá trị vừa mang tính tâm
linh vừa mang tính nhân văn cao cả như: kinh Veda, hai đại sử thi, các nghi lễ
tôn giáo… Chúng được hình thành từ thời cổ đại và được lưu truyền liên tục cho
đến ngày nay. Qua những trình bày sơ lược ở trên chúng ta thấy mỗi mặt cuộc sống
và đời sống xã hội của người dân Ấn Độ đều được tôn giáo “chỉ đạo”, đây cũng là
điểm quan trọng của văn hóa và văn minh của đất nước này. Các tôn giáo đã tác động
sâu sắc vào đời sống tâm linh của mỗi người dân Ấn, điều đó làm cho người Ấn
hay suy tưởng chiệm nghiệm hơn là biện luận, đặc biệt là tư duy huyền thoại, sử
thi. Họ thích sống dựa vào thiên nhiên và hòa với núi – sông, nơi đã tạo dựng
nên nền văn minh Ấn Độ.
0 nhận xét:
Đăng nhận xét